Sở Tư Pháp tỉnh Phú Yên
Những tồn tại, hạn chế liên quan đến công tác văn bản và biện pháp khắc phục

Chuyên mục: Bổ trợ tư pháp | Đăng ngày: 02/06/2017

Trong thời gian qua, công tác ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã được triển khai đồng bộ, kịp thời, đảm bảo số lượng, chất lượng của văn bản được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng để địa phương phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác văn bản tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh đã có sự phối hợp tốt giữa các đơn vị chuyên môn và công chức pháp chế chuyên trách. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: 

    Một là. Tình trạng nợ đọng và chậm ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND Tỉnh liên quan đến nhiều lĩnh vực. Nhiều văn bản của Trung ương giao HĐND, UBND tỉnh quy định chi tiết, cụ thể cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước chậm tham mưu ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ cho phù hợp với quy định hiện hành, trong đó có những văn bản Trung ương có hiệu lực đến 2, 3 năm sau các cơ quan chuyên môn mới tiến hành soạn thảo và tham mưu ban hành. Điều này đã ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng vì không kịp thời cụ thể hóa để áp dụng những quy định mới, hoặc vẫn còn áp dụng những văn bản của HĐND, UBND mà phần căn cứ pháp lý đã hết hiệu lực.

    Hai là. Một số cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật không có cơ sở pháp lý, không phù hợp thẩm quyền, chất lượng dự thảo chưa đảm bảo, có trường hợp văn bản chỉ sao chép lại văn bản Trung ương, không có nội dung quy định chi tiết. 
    Ba là. Còn xảy ra nhiều tình trạng ban hành văn bản hành chính theo hình thức công văn, thông báo, nhất là ở cấp huyện, cấp xã có nội dung chứa quy phạm pháp luật trái quy định, thẩm quyền , điển hình là những văn bản mang tính cấm chỉ đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, cơ quan nhà nước. Có trường hợp văn bản bằng hình thức quyết định, chỉ thị có nội dung chứa quy phạm pháp luật, nhưng ban hành bằng hình thức văn bản hành chính, do chủ tịch UBND ký ban hành và ngược lại.
    Bốn là. Mặc dù chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND Tỉnh ban hành quí IV năm trước liền kề, nội dung do các cơ quan quản lý lĩnh vực đăng ký, nhưng một số cơ quan không sớm chủ động thực hiện quy trình soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, đề nghị thẩm định, mà để gần đến kỳ họp của HĐND mới thực hiện, đã gây áp lực lớn cho Sở Tư pháp khi tổ chức thẩm định, vì tập trung quá nhiều văn bản với thời gian ngắn, trong khi chất lượng dự thảo không đảm bảo.
    Năm là. Mặc dù HĐND Tỉnh có Nghị quyết số 45/2012/NQ-HĐND ngày 12/7/2012 giao 14 cơ quan, mỗi cơ quan 01 công chức pháp chế; Chủ tịch UBND Tỉnh có Công văn số 2889/UBND-NC ngày 28/8/2015, yêu cầu chậm nhất đến 30/10/2015, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh phải bố trí công chức chuyên trách pháp chế, nhưng đến cuối năm 2015 vẫn còn 4 cơ quan chưa có công chức pháp chế chuyên trách (Sở Giáo dục, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giao thông vận tải). Một số cơ quan chuyên môn chưa giao đúng nhiệm vụ cho công chức pháp chế theo quy định tại Nghị định 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và bộ máy của tổ chức pháp chế; Thông tư số 01/2015/TT-BTP ngày 15 tháng 01 năm 2015 Hướng dẫn về nghiệp vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức pháp chế, nên không phát huy hiệu quả công chức chuyên trách.
     Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, các cơ quan, ban ngành, nhất là người đứng đầu phải thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
     Thứ nhất. Thường xuyên rà soát văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND thuộc lĩnh vực quản lý của mình để kịp thời tham mưu ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản cho phù hợp với pháp luật hiện hành. Khi văn bản Trung ương ký ban hành thì tiến hành ngay việc rà soát, soạn thảo văn bản để tham mưu ban hành có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản Trung ương nhằm đảm bảo tính đồng bộ, kịp thời.
    Thứ hai. Trước khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải nghiên cứu kỹ cơ sở pháp lý và thẩm quyền ban hành. Thường xuyên tổ chức tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật và văn bản có nội dung chứa quy phạm pháp luật để xử lý kịp thời.
    Thứ ba. Khi được giao tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ phải kịp thời phân công cụ thể người có năng lực, am hiểu lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh (có sự phối hợp của công chức pháp chế chuyên trách) tiến hành soạn thảo, đồng thời thực hiện quy trình tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    Thứ tư. Các cơ quan chưa có công chức chuyên trách pháp chế, sớm bố trí theo quy định. Phân công đúng nhiệm vụ cho công chức pháp chế chuyên trách theo quy định hiện hành, nhất là nhiệm vụ liên quan đến công tác văn bản, kiểm soát thủ tục hành chính, tuyên truyền…
    Ngoài ra, Ngày 01/7/2016 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực. Các cơ quan chuyên môn UBND tỉnh, UBND cấp huyện khi tham mưu ban hành, ban hành văn bản QPPL cần lưu ý một số nội dung cơ bản sau:
 - Hiện nay, văn bản bãi bỏ văn bản QPPL là văn bản hành chính, nhưng khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thì văn bản bãi bỏ văn bản QPPL là văn bản QPPL.
 - Không quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp, vì đây là hành vi bị nghiêm cấm, trừ trường hợp được giao trong luật.
 - Đối với các Nghị quyết của HĐND tỉnh được trình trong kỳ họp cuối năm 2016 trở đi quy định về: Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL). Thì trước khi trình Thường trực HĐND xem xét, quyết định đề nghị xây dựng nghị quyết phải thực hiện theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116 của Luật Ban hành văn bản, sau đó mới tiến hành soạn thảo Nghị quyết. 
- Nghị quyết của HĐND cấp huyện được Phòng Tư pháp thẩm định. Hiện nay không quy định thẩm định. Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao. (Điều 30). Nghĩa là, HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản QPPL khi được luật giao.

 

                                                                                    Nguyễn Văn Tin – Trưởng phòng XD&KTVB


Các tin cùng chuyên mục:

Tiếp nhận phản ánh việc thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TƯ ngày 03/06/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy

Giám đốc Sở 0984 498 044
Văn phòng Sở 02573 841 941
  • Hướng dẫn sử dụng VPDT - Chuyên viên
  • Hướng dẫn sử dụng VPDT - Phó, Trưởng phòng
  • Hướng dẫn sử dụng VPDT - Văn thư
  • Hướng dẫn sử dụng VPDT - Lãnh đạo

Thống kê truy cập